Ngày 10/08/2022
Ba ưu tiên tài trợ chống biến đổi khí hậu cho khu vực Đông Nam Á  -  Cải thiện nồi hơi giúp giảm gần 1,3 tỷ đồng chi phí nhiên liệu năm tại Nhà máy bia Sài Gòn - Củ Chi  -  Doanh nghiệp xi măng tiết kiệm năng lượng để bảo vệ môi trường  -  Làm thế nào để đo lường phát triển xanh của các địa phương?  -  Các nhà lãnh đạo thống nhất thúc đẩy hiệu quả năng lượng cho mục tiêu năng lượng và khí hậu bền vững  

Tin hoạt động

Chuyển đổi năng lượng xanh lĩnh vực giao thông

16:32 - 10/05/2022

Bộ Giao thông vận tải (GTVT) đang dự thảo nội dung Chương trình hành động chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí các-bon và khí mê-tan của ngành Giao thông vận tải. Trong đó, chiến lược xác định 6 lĩnh vực trong lộ trình chuyển đổi năng lượng xanh, gồm: đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải, hàng không và giao thông đô thị.

Phát thải sẽ tăng gấp đôi tới 90 triệu tấn vào năm 2030

Theo Bộ GTVT, năm 2019 ngành GTVT phát thải khoảng 45 triệu tấn CO2, dự báo tăng trung bình 6 - 7%/năm, và đạt gần 90 triệu tấn vào năm 2030. Trong đó, vận tải đường bộ là nguồn phát thải CO2 cao nhất, chiếm khoảng 80% lượng phát thải toàn ngành, vận tải đường thủy (nội địa và ven biển) chiếm 10%; hàng không chiếm 6%; đường sắt không đáng kể. 

Vận tải đường bộ chiếm tới 80% tổng lượng phát thải ngành giao thông vận tải.

Cũng theo nhận định của Bộ GTVT, lượng phát thải do các hoạt động giao thông vận tải Việt Nam khá cao, chủ yếu do tỷ lệ phương tiện lạc hậu, quá niên hạn sử dụng cao. Ngoài ra, mạng lưới kết cấu hạ tầng chất lượng kém, kết nối chưa thuận lợi dẫn đến nhiều ách tách. Tổ chức vận tải chưa hiệu quả, trong đó vận tải đường bộ chiếm tỷ trọng lớn với tỷ lệ xe chạy rỗng nhiều, giao thông công cộng còn khiêm tốn. 

Tính đến hết năm 2021, cả nước hiện có hơn 4,5 triệu xe ô tô, gần 60 triệu phương tiện cá nhân hai bánh chủ yếu sử dụng nhiên liệu xăng, dầu diesel. 

Ngành đường sắt hiện có 244 đầu máy 100% chạy dầu diesel, trong đó tỷ lệ đầu máy cũ sản xuất trên ba thập kỷ chiếm tới hơn 37%. Cụ thể, hiện có tới 29 đầu máy sản xuất từ năm 1963, 27 đầu máy sản xuất năm 1978, 35 đầu máy sản xuất từ năm 1985. 

Đường thủy nội bộ hiện có hơn 233 nghìn phương tiện có độ tuổi bình quân 13,2 năm. Tàu hàng chiếm tỷ lệ 87,5% với 204 nghìn chiếc, tàu khách chiếm 12,5% (29 nghìn chiếc). Ngoài ra còn có hơn 2.700 phương tiện vận chuyển VR-SB (sông pha biển). 

Số đội tàu biển là 1.555 tàu với tuổi bình quân là 16,7 năm, trẻ hơn 5 năm so với thế giới. 

Số tàu bay của Việt Nam hiện có hơn 233 chiếc. Tuổi trung bình đội tàu bay là 6,2 năm, khá trẻ so với tuổi trung bình tàu bay thế giới. 

Hệ thống logistic tại các cảng hàng không, tàu thủy, đường sắt, đường bộ chủ yếu sử dụng nhiên liệu xăng và dầu diesel. Trang thiết bị bốc xếp tại các ga đường sắt, bến tàu thủy nội địa sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu. Đa số trang thiết bị sử dụng ở các cảng biển là thiết bị nhập khẩu, tuy nhiên tỷ lệ cảng sử dụng trang thiết bị bốc xếp chạy điện chưa nhiều, chủ yếu ở các cảng lớn là Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, cảng khu vực TP. Hồ Chí Minh và Vũng Tàu. 

Chuyển đổi giao thông xanh cho đô thị

Dự kiến tới năm 2050, khoảng 70% dân số Việt Nam sẽ tập trung tại các khu vực đô thị. Chính vì vậy, việc chuyển đổi giao thông xanh cho đô thị là vấn đề đang được quan tâm. Theo kinh nghiệm của các quốc gia đi trước, phương tiện giao thông công cộng, với các phương thức vận tải khối lượng lớn như MRT và BRT, là giải pháp chính để giải quyết vấn đề lưu thông đô thị. Bên cạnh đó cần kết hợp các giải pháp giao thông phi cơ giới (xe đạp, đi bộ), tăng cường kết nối liên khu, giữa vùng trung tâm và các khu đô thị vệ tinh với nhau. 

Phương tiện giao thông công cộng là giải pháp chính để giải quyết vấn đề lưu thông đô thị tại các nước phát triển

Theo dự thảo, lộ trình chuyển đổi giao thông xanh trong đô thị giai đoạn từ nay đến 2030, từ năm 2025 thay thế 100% xe bus mới sử dụng điện, năng lượng xanh. Tỷ lệ đảm nhận vận tải công cộng tại Hà Nội đạt 45-50%, TP. Hồ Chí Minh đạt 25%, Đà Nẵng đạt 25-35%, Cần Thơ đạt 20%; Hải Phòng đạt 10 - 15%; đô thị loại I đạt ít nhất 5%. 

Giai đoạn 2031 - 2050, từ năm 2030, tỷ lệ phương tiện sử dụng điện, năng lượng xanh đạt tối thiểu 50%; 100% xe taxi thay thế, đầu tư mới sử dụng điện, năng lượng xanh. Đến năm 2050, 100% xe buýt, xe taxi sử dụng điện, năng lượng xanh. Tỷ lệ đảm nhận của vận tải hành khách công cộng tại các đô thị đặc biệt, đô thị loại I lần lượt đạt ít nhất 40% và 10%.

Các giải pháp được đưa ra để đạt được lộ trình này là: quy hoạch và xây dựng hệ thống hạ tầng cung cấp điện, năng lượng xanh cho phương tiện giao thông tại các đô thị; đẩy nhanh tiến độ đầu tư và đưa vào khai thác các tuyến đường sắt đô thị theo quy hoạch đã được phê duyệt; mở rộng, phát triển hạ tầng phục vụ phương tiện giao thông công cộng; phát triển kết cấu hạ tầng giao thông phi cơ giới, điểm trông giữ phương tiện kết nối hợp lý với các phương thức vận tải hành khách công cộng khác.

Bộ Xây dựng có trách nhiệm chủ trì hoàn thiện chính sách ưu tiên phát triển hạ tầng giao thông đô thị cho phương tiện giao thông sử dụng điện, năng lượng xanh; rà soát các quy định, tiêu chuẩn thiết kế đường đô thị có đường dành riêng cho phương tiện điện và giao thông phi cơ giới.

Thanh Thanh t/h