Xanh hóa làng nghề: Tháo gỡ điểm nghẽn để sản xuất bền vững
05/11/2026
Để giải quyết căn cơ vấn đề ô nhiễm tại các làng nghề, cần kết hợp đổi mới công nghệ, tổ chức lại không gian sản xuất, đầu tư hạ tầng xử lý chất thải và xây dựng chính sách hỗ trợ phù hợp với từng nhóm ngành nghề.
Quy hoạch sản xuất phải đi đôi với bảo vệ môi trường
Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề đã tồn tại trong nhiều năm, song việc xử lý vẫn gặp không ít khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu là hoạt động sản xuất thường nằm xen kẽ trong khu dân cư, gắn trực tiếp với việc làm, thu nhập và đời sống của người dân. Vì vậy, nếu không có phương án phù hợp, các biện pháp kiểm soát ô nhiễm rất dễ ảnh hưởng đến sinh kế và khó duy trì lâu dài.
Tại nhiều làng nghề, các hộ sản xuất vẫn sử dụng nhà ở làm nơi gia công, chế biến hoặc tập kết nguyên liệu. Khi nhu cầu thị trường tăng, quy mô sản xuất được mở rộng nhưng hạ tầng kỹ thuật không phát triển tương ứng. Hệ thống thu gom nước thải, xử lý khí thải và quản lý chất thải rắn vì thế không đáp ứng được yêu cầu thực tế, khiến ô nhiễm phát sinh từ nhiều công đoạn, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân, chất lượng môi trường sống và khả năng phát triển ổn định của làng nghề.
Theo TS Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch Hội Không khí sạch Việt Nam, không thể áp dụng một phương án chung cho tất cả các làng nghề, cũng không nên mặc định rằng mọi cơ sở gây ô nhiễm đều phải di dời vào cụm công nghiệp. Việc lựa chọn giải pháp cần dựa trên đặc điểm sản xuất, mức độ phát thải, điều kiện cư trú và vai trò của nghề truyền thống đối với cộng đồng.
Thực tế cho thấy, mỗi nhóm ngành nghề có tính chất ô nhiễm khác nhau. Các cơ sở chế biến nông sản, thực phẩm có thể phát sinh nước thải hữu cơ và chất thải rắn. Hoạt động tái chế kim loại, nhựa hoặc nấu đúc có thể tạo ra khí thải, bụi và các dòng chất thải cần được kiểm soát nghiêm ngặt. Do đó, việc đánh giá đúng nguồn phát sinh và mức độ nguy hại là cơ sở để lựa chọn phương án xử lý hiệu quả.

Lò gas di dộng tại làng gốm Bát Tràng
Đối với những làng nghề thủ công, mỹ nghệ có giá trị văn hóa và lịch sử, giải pháp trước mắt có thể là cải thiện điều kiện sản xuất tại chỗ, nâng cấp hệ thống thu gom chất thải, ứng dụng công nghệ ít phát thải và bố trí các công trình xử lý phù hợp, vừa giúp bảo vệ môi trường, vừa tạo điều kiện để người dân tiếp tục duy trì nghề truyền thống.
Trong khi đó, những ngành sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm cao cần được xem xét bố trí tại khu vực sản xuất tập trung, có quy hoạch và hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường. Việc di dời phải gắn với lộ trình thực hiện cụ thể, khả năng tiếp cận mặt bằng và điều kiện hoạt động của các cơ sở.
TS Hoàng Dương Tùng lưu ý, di chuyển địa điểm sản xuất không đồng nghĩa với việc đã giải quyết được ô nhiễm. Nếu khu vực tiếp nhận không có hệ thống thu gom, xử lý nước thải, khí thải và chất thải rắn đạt yêu cầu, nguồn gây ô nhiễm vẫn tiếp tục tồn tại, chỉ chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác. Vì vậy, quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề cần được thực hiện đồng bộ với đầu tư hạ tầng môi trường. Công tác quản lý cũng phải bảo đảm các công trình xử lý được vận hành thường xuyên, có đơn vị chịu trách nhiệm và đáp ứng các quy định hiện hành.
Giảm phát thải ngay trong quy trình sản xuất
Bên cạnh việc tổ chức lại không gian sản xuất, đổi mới công nghệ được xem là giải pháp quan trọng để giảm ô nhiễm từ gốc. Thay vì chỉ xử lý chất thải sau khi phát sinh, các cơ sở cần điều chỉnh quy trình nhằm tiết kiệm nguyên liệu, giảm tiêu hao năng lượng và hạn chế chất ô nhiễm ngay từ đầu.
Theo GS.TS Đặng Kim Chi, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, hơn 25 năm qua, nhiều đề tài khoa học và công trình nghiên cứu đã tập trung tìm kiếm giải pháp cải thiện môi trường làng nghề. Xuất bản nhiều tài liệu hướng dẫn giải pháp môi trường cho các nhóm ngành như chế biến nông sản, thực phẩm, dệt nhuộm, gốm sứ, mỹ nghệ và tái chế kim loại...
Trên thực tế, nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã chủ động đổi mới công nghệ, lựa chọn nguyên liệu phù hợp và tối ưu hóa quy trình nhằm tiết kiệm tài nguyên, nhiên liệu, hạn chế phát thải.
Tại làng gốm Bát Tràng và làng gốm Kim Lan đã cho thấy hiệu quả của hướng đi này. Việc chuyển từ lò nung than thủ công sang lò sử dụng khí gas đã góp phần chấm dứt tình trạng khói bụi đen bao phủ khu dân cư trong thời gian dài. Còn tại các làng nghề sơn mài, sử dụng sơn thân thiện với môi trường giúp hạn chế hơi dung môi độc hại; trong lĩnh vực cơ khí, kim khí, lựa chọn dung dịch tẩy rửa phù hợp cũng góp phần giảm nguy cơ ô nhiễm.
Tăng cường cơ chế hỗ trợ
Một trong những trở ngại lớn đối với quá trình cải thiện môi trường làng nghề là khả năng tài chính của các hộ sản xuất. Phần lớn cơ sở có quy mô nhỏ, nguồn vốn hạn chế, trong khi chi phí đổi mới công nghệ và đầu tư hệ thống xử lý chất thải có thể vượt quá khả năng tự cân đối.
Do đó, yêu cầu đặt ra là phải kết hợp giữa trách nhiệm tuân thủ quy định môi trường của cơ sở sản xuất với các chính sách hỗ trợ phù hợp. Những cơ sở có nhu cầu chuyển đổi công nghệ cần được tiếp cận nguồn vốn, tư vấn kỹ thuật và chương trình đào tạo để từng bước áp dụng phương thức sản xuất ít phát thải.
Theo định hướng được GS.TS Đặng Kim Chi đề cập, các giải pháp cần được thiết kế căn cứ vào quy mô sản xuất, đặc điểm chất thải và điều kiện kinh tế của từng nhóm ngành nghề. Việc hỗ trợ không nên dàn trải mà cần tập trung vào những khâu có khả năng giảm ô nhiễm rõ rệt và mang lại hiệu quả lâu dài.
Với các cơ sở chưa đủ điều kiện đầu tư hệ thống xử lý riêng, có thể nghiên cứu phương án sử dụng chung công trình xử lý hoặc tổ chức thu gom chất thải tập trung theo quy định. Mô hình này có thể giúp giảm chi phí đầu tư ban đầu, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc kiểm soát và giám sát chất lượng xử lý.
Cùng với đó, chính quyền địa phương cần tăng cường kiểm tra, hướng dẫn các cơ sở thực hiện đúng yêu cầu về bảo vệ môi trường. Việc quản lý phải gắn với trách nhiệm cụ thể, tránh tình trạng công trình được đầu tư nhưng hoạt động không thường xuyên hoặc không đáp ứng công suất thực tế.
Về lâu dài, cải thiện môi trường làng nghề cần được xác định là nhiệm vụ gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế địa phương. Bảo tồn nghề truyền thống, duy trì việc làm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng không phải những mục tiêu đối lập, nếu quá trình chuyển đổi được tổ chức hợp lý và có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học và người sản xuất.
Muốn giải quyết ô nhiễm một cách thực chất, cần chuyển từ cách làm thiên về xử lý hậu quả sang phòng ngừa ngay trong quá trình sản xuất. Phân loại đúng ngành nghề, quy hoạch phù hợp, đầu tư hạ tầng đồng bộ và hỗ trợ chuyển đổi công nghệ sẽ là những yếu tố quyết định để các làng nghề từng bước giảm phát thải, cải thiện chất lượng sống và phát triển bền vững.
Hà Nội có 1.350 làng nghề, làng có nghề phân bố chủ yếu tại các xã, phường khu vực ngoại thành. Đến nay, thành phố đã công nhận 337 làng nghề, làng nghề truyền thống và nghề truyền thống. Trong số này, nhiều làng nghề hoạt động trong lĩnh vực chế biến nông sản, cơ khí, tái chế nhựa, dệt nhuộm, mây tre đan… tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Để giải bài toán môi trường làng nghề, thành phố đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách quan trọng. Nổi bật là Quyết định số 2546/QĐ-UBND ban hành danh mục, lộ trình và kế hoạch xử lý ô nhiễm môi trường đối với các làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. “Đề án tổng thể phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2050” đặt mục tiêu duy trì 100% làng nghề được công nhận đủ các điều kiện về bảo vệ môi trường. |
Tố Quyên
Chuyển đổi số để sản xuất xanh tại các làng nghề Hà Nội
Phát triển cụm công nghiệp theo hướng xanh, bền vững
TP. HCM: Mở rộng không gian cho công nghiệp sạch