Sản xuất và tiêu dùng bền vững

Chủ nhật, 31/08/2025 | 21:37 GMT+7

Kinh tế tuần hoàn

Giải pháp kép cho môi trường, nông nghiệp và an ninh năng lượng Việt Nam

31/08/2025

Việt Nam đang từng bước củng cố năng lực sản xuất ethanol, đồng thời chuẩn bị phương án nhập khẩu hợp lý, tạo thế chủ động trong việc triển khai xăng E10 từ 2026.
Tiềm năng của E10
Mới đây, chia sẻ tại tại Hội thảo 'Phát triển nhiên liệu sinh học trong thời kỳ mới - Những nhiệm vụ trọng tâm để kiến tạo tương lai nhiên liệu bền vững cho Việt Nam', ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam (VBFA) nhận định, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn trong việc phát triển và mở rộng sử dụng xăng sinh học, đặc biệt là E10, từ năm 2026.
Hiện nay, cả nước có 6 nhà máy sản xuất ethanol nhiên liệu (E100) đặt tại Đồng Nai, Quảng Nam, Đức Giang, Đăk Tô và Dung Quất, với tổng công suất thiết kế lên tới hàng trăm nghìn tấn mỗi năm. Nguyên liệu chủ yếu là sắn lát khô, sản lượng khoảng 5 triệu tấn/năm, trong đó ngành nhiên liệu sinh học tiêu thụ khoảng 25%. Ngoài ra, Việt Nam có thể bổ sung nguồn cung bằng ngô nhập khẩu từ Mỹ để ổn định giá thành và giảm rủi ro mùa vụ.
Việt Nam có lợi thế về nguồn nguyên liệu để sản xuất ethanol (Ảnh minh hoạ)
Với nguồn nguyên liệu trong nước, sản xuất ethanol hiện đáp ứng khoảng 32% nhu cầu và dự kiến tăng lên 45% vào năm 2026. Tuy nhiên, do nhu cầu thị trường còn hạn chế, các nhà máy mới chỉ vận hành ở mức 40 – 60% công suất. Khi lộ trình xăng E10 được triển khai toàn quốc, nhu cầu E100 sẽ tăng mạnh, đòi hỏi Việt Nam vừa nâng cao hiệu quả sản xuất nội địa, vừa chuẩn bị phương án nhập khẩu để bảo đảm nguồn cung liên tục và ổn định.
Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam nhận định, doanh nghiệp phân phối xăng dầu gần như không phải đầu tư thêm hạ tầng lớn cho E10, bởi hệ thống hiện có đã đáp ứng yêu cầu. Chi phí sản xuất nhiên liệu sinh học cũng đã giảm đáng kể nhờ tiến bộ công nghệ. Thực tế 8 năm qua cho thấy giá ethanol thường thấp hơn xăng khoáng, nên việc phối trộn 10% ethanol (E10) giúp giảm chi phí, ổn định giá bán lẻ và góp phần kiểm soát lạm phát. Đặc biệt, triển khai E10 từ 01/01/2026 gần như không làm phát sinh chi phí xã hội, trong khi lại giảm đáng kể ô nhiễm môi trường.
Lợi ích kép của xăng sinh học
Cũng theo Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, nhiên liệu sinh học giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường, đồng thời giúp đạt được mục tiêu này với chi phí thấp nhất. Ông cho biết, nếu chương trình xăng E10 được triển khai từ ngày 1/1/2026, tổng chi phí xã hội phát sinh gần như không đáng kể; người sử dụng cũng không cần điều chỉnh phương tiện hay thay đổi thiết bị tiêu thụ xăng dầu.
Như vậy có thể khẳng định, xăng sinh học vừa góp phần giảm ô nhiễm môi trường, vừa không làm tăng gánh nặng chi phí xã hội, trở thành giải pháp tối ưu mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội toàn diện.
Ông Đỗ Văn Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam (VBFA) tại Hội thảo ngày 27/8 vừa qua
Bên cạnh đó, doanh nghiệp phân phối nhiên liệu cũng không phải đầu tư lớn cho hệ thống bồn bể hay trụ bơm. Đặc biệt, thuế môi trường áp dụng cho xăng sinh học thấp hơn xăng khoáng, giúp giá bán lẻ E10 luôn có sức cạnh tranh.
Ngoài lợi ích về môi trường, nhiên liệu sinh học còn mở ra hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp. Việc sử dụng khoảng 1,3 triệu tấn sắn mỗi năm để sản xuất ethanol không chỉ nâng cao giá trị nông sản mà còn hình thành chuỗi cung ứng khép kín, gắn kết nông nghiệp - công nghiệp - thương mại.
Đặc biệt, xăng sinh học giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào nhập khẩu xăng dầu, từ đó tăng tính tự chủ trong an ninh năng lượng. Đây là lợi thế quan trọng trong bối cảnh giá dầu thế giới liên tục biến động và rủi ro từ các cuộc khủng hoảng địa chính trị toàn cầu. Đồng thời, việc tham gia thị trường nhiên liệu sinh học cũng giúp Việt Nam bắt kịp xu hướng quốc tế, vốn đã được triển khai thành công ở nhiều quốc gia như Mỹ, Brazil, Thái Lan, Ấn Độ hay Trung Quốc.
Triển vọng và tầm nhìn
Bên cạnh nguồn cung nội địa, Việt Nam cần nhập khẩu khoảng 55% ethanol mỗi năm để đáp ứng nhu cầu, chủ yếu từ Mỹ và Brazil – hai quốc gia chiếm phần lớn sản lượng toàn cầu. Hiện cả nước có 5 cảng biển lớn (Hải Phòng, Dung Quất, Vân Phong, Nhà Bè, Cái Mép) đủ khả năng tiếp nhận tàu từ 20.000 – 60.000 m³, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập khẩu trực tiếp, tiết kiệm 20 – 50 USD/tấn so với mua qua trung gian ở châu Á.
Do đó, việc tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng cảng biển không chỉ giúp giảm chi phí nhập khẩu mà còn mở ra cơ hội biến Việt Nam thành trung tâm hóa chất của khu vực. Đây là bước đi chiến lược nhằm đảm bảo an ninh năng lượng, đồng thời nâng cao vị thế quốc gia trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Việt Nam đảm bảo nguồn cung ethanol cho xăng E10 từ năm 2026
Theo kế hoạch, đến đầu năm 2026, tổng nguồn cung ethanol (bao gồm nội địa và nhập khẩu) sẽ đạt khoảng 100.000 m³/tháng, đủ để đáp ứng hoàn toàn nhu cầu xăng E10 trên thị trường. Triển vọng này mở ra cơ hội phát triển ngành etanol thành một ngành công nghiệp mũi nhọn, vừa hỗ trợ nông dân, vừa giảm ô nhiễm, vừa củng cố an ninh năng lượng quốc gia.
Về lâu dài, việc xây dựng chuỗi giá trị khép kín từ nông nghiệp - sản xuất - phân phối và tiêu dùng xăng sinh học cũng sẽ tạo nền tảng cho một nền kinh tế xanh, bền vững. Việt Nam không chỉ đáp ứng được cam kết cắt giảm phát thải khí nhà kính mà còn tiến tới trở thành trung tâm năng lượng sạch và hóa chất sinh học trong khu vực.
Theo cẩm nang xăng sinh học của Bộ Công thương, xăng sinh học là hỗn hợp của xăng truyền thống và cồn sinh học (ethanol) được sử dụng cho các loại động cơ xăng đốt trong như ô tô và xe gắn máy. Trong đó, xăng E10 là loại xăng sinh học có chứa 10% ethanol và 90% xăng khoáng thông thường. 
Một số ưu điểm nổi bật của xăng E10:
- Giảm phát thải CO2 ~30% so với xăng thường.
- Giảm khí độc hại như CO, HC, cải thiện chất lượng không khí.
- Giá thành sản xuất thấp hơn so với xăng truyền thống.
- Giảm sự phụ thuộc vào xăng dầu hóa thạch, thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn, hỗ trợ phát triển nông nghiệp (do ethanol sản xuất từ ngô, sắn..).
Khánh Long