Thực thi trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 110/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu.
Nghị định số 110/2026/NĐ-CP được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 liên quan đến trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu theo cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR). Với việc quy định rõ ràng hơn về phạm vi, đối tượng áp dụng, phương thức thực hiện và cơ chế quản lý.
Ảnh minh hoạ (Nguồn: netzero.vn)
Theo quy định tại Nghị định, các tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì thuộc danh mục phải tái chế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tái chế theo tỷ lệ bắt buộc. Danh mục này bao gồm nhiều nhóm sản phẩm có nguy cơ phát sinh chất thải lớn và tác động đáng kể đến môi trường như bao bì nhựa, thiết bị điện – điện tử, pin, ắc quy, săm lốp và một số sản phẩm tiêu dùng khác. Tỷ lệ tái chế bắt buộc được xác định cụ thể và điều chỉnh theo lộ trình, định kỳ cập nhật nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi vật liệu và giảm thiểu lượng chất thải phát sinh ra môi trường.
Nghị định 110/2026/NĐ-CP cũng tạo cơ chế linh hoạt để doanh nghiệp lựa chọn phương thức thực hiện trách nhiệm tái chế. Theo đó, nhà sản xuất, nhập khẩu có thể tự tổ chức hoạt động tái chế, thuê các đơn vị có đủ điều kiện theo quy định hoặc ủy quyền cho tổ chức trung gian thực hiện. Trường hợp không trực tiếp triển khai tái chế, doanh nghiệp có thể lựa chọn đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam. Mức đóng góp được tính toán dựa trên tỷ lệ tái chế bắt buộc, khối lượng sản phẩm, bao bì đưa ra thị trường và đơn giá tái chế tương ứng. Cách tiếp cận này không chỉ giúp giảm áp lực cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, mà còn tạo điều kiện hình thành thị trường dịch vụ tái chế chuyên nghiệp, từng bước chuẩn hóa và minh bạch hóa hoạt động này.
Bên cạnh trách nhiệm tái chế, Nghị định còn quy định rõ trách nhiệm xử lý chất thải đối với các sản phẩm, bao bì khó tái chế hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Cụ thể, các nhà sản xuất, nhập khẩu phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp tài chính để hỗ trợ hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải. Quy định này thể hiện nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, đồng thời góp phần chia sẻ gánh nặng chi phí xử lý chất thải với Nhà nước và xã hội. Việc mở rộng trách nhiệm của doanh nghiệp đối với toàn bộ vòng đời sản phẩm cũng được xem là bước tiến quan trọng trong việc nội luật hóa các thông lệ quốc tế về quản lý chất thải và bảo vệ môi trường.
Nghị định cũng quy định việc thiết lập và vận hành hệ thống thông tin quản lý EPR cấp quốc gia. Thông qua hệ thống này, các doanh nghiệp thực hiện đăng ký, kê khai kế hoạch tái chế, báo cáo kết quả thực hiện cũng như hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định. Việc số hóa quy trình quản lý không chỉ giúp cơ quan quản lý nhà nước theo dõi, kiểm tra, giám sát hiệu quả hơn mà còn nâng cao tính minh bạch, hạn chế gian lận trong hoạt động tái chế và xử lý chất thải. Đồng thời, Nghị định cũng quy định rõ thời hạn kê khai, báo cáo và hoàn thành nghĩa vụ tài chính hằng năm, qua đó tạo khuôn khổ pháp lý đồng bộ, rõ ràng cho doanh nghiệp thực hiện.
Việc ban hành Nghị định 110/2026/NĐ-CP được đánh giá là bước hoàn thiện quan trọng trong triển khai cơ chế EPR tại Việt Nam, góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp thay đổi tư duy từ sản xuất tuyến tính sang mô hình kinh tế tuần hoàn. Thay vì chỉ tập trung vào khâu sản xuất và tiêu thụ, doanh nghiệp buộc phải tính toán đến khả năng thu hồi, tái chế và xử lý sản phẩm sau khi thải bỏ, từ đó thúc đẩy thiết kế xanh, giảm sử dụng nguyên liệu khó tái chế và tối ưu hóa tài nguyên.